Một quan hệ lao động từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc đi qua khoảng mười mấy mốc thời gian có hệ quả pháp lý: thời gian thử việc tối đa, thời hạn hợp đồng, ngày trả lương, số ngày báo trước khi nghỉ, hạn thanh toán sau khi nghỉ, thời hiệu xử lý kỷ luật và thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp. Phần lớn các mốc này nằm trong Bộ luật Lao động 2019 (có hiệu lực từ 01/01/2021) và Nghị định hướng dẫn đi kèm.
Bài này gom các mốc đó vào một bảng để bạn tra nhanh, dù bạn là người lao động đang tính ngày nghỉ hay người làm nhân sự đang lập lịch cho cả công ty. Mỗi mốc có bài riêng đi sâu trong cùng chuyên mục; ở đây bạn nắm bức tranh chung, biết mốc nào đếm theo ngày lịch, mốc nào đếm theo ngày làm việc, và mốc nào bỏ lỡ thì mất quyền. Con số trong bài lấy theo Bộ luật Lao động 2019; luật có thể được sửa đổi, nên trước khi dùng cho một việc cụ thể, bạn đối chiếu bản hợp nhất mới nhất.
Bảng mốc thời gian chính theo Bộ luật Lao động 2019
Bảng dưới xếp theo thứ tự một quan hệ lao động thường đi qua. Cột cuối ghi điều bạn cần để ý nhất ở từng mốc.
| Giai đoạn | Mốc thời gian | Đếm theo | Điều cần để ý |
|---|---|---|---|
| Thử việc | Tối đa 180 ngày (người quản lý doanh nghiệp), 60 ngày (cần trình độ cao đẳng trở lên), 30 ngày (trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ), 6 ngày làm việc (việc khác) | Ngày lịch; riêng mức thấp nhất là ngày làm việc | Chỉ thử việc một lần cho một công việc; hợp đồng dưới 1 tháng thì không thử việc |
| Hợp đồng xác định thời hạn | Không quá 36 tháng | Tháng | Hết hạn mà vẫn làm thì có 30 ngày để ký hợp đồng mới |
| Ký tiếp | Chỉ ký thêm 1 lần hợp đồng xác định thời hạn | Số lần ký | Sau đó vẫn làm thì phải ký không xác định thời hạn (trừ vài trường hợp luật liệt kê) |
| Trả lương chậm | Không quá 30 ngày khi có lý do bất khả kháng; từ 15 ngày trở lên phải đền bù tiền lãi | Ngày lịch | Không trả đủ, đúng hạn là căn cứ để người lao động nghỉ không cần báo trước |
| Báo trước khi nghỉ | 45 ngày, 30 ngày hoặc 3 ngày làm việc tuỳ loại hợp đồng | Ngày lịch, riêng mức 3 là ngày làm việc | Áp dụng cho cả hai phía; một số nghề đặc thù dài hơn |
| Thanh toán khi nghỉ | 14 ngày làm việc, kéo dài tối đa 30 ngày trong vài trường hợp | Ngày làm việc | Kèm xác nhận thời gian đóng bảo hiểm và trả giấy tờ gốc |
| Kỷ luật lao động | Thời hiệu 6 tháng, hoặc 12 tháng với vi phạm về tài chính, tài sản, bí mật | Tháng, từ ngày xảy ra vi phạm | Có các khoảng không được xử lý và có thể kéo dài tối đa 60 ngày |
| Tranh chấp cá nhân | 6 tháng (hoà giải viên), 9 tháng (Hội đồng trọng tài), 1 năm (toà án) | Tháng, năm, từ ngày phát hiện vi phạm | Thời gian bất khả kháng, trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu |
Bảng không thay cho văn bản luật. Nó giúp bạn biết phải hỏi câu gì: mốc này tính từ ngày nào, đếm ngày lịch hay ngày làm việc, và nếu hết mốc thì quyền nào mất. Ba câu đó quyết định gần như mọi tranh cãi về thời hạn trong lao động.
Ngày lịch hay ngày làm việc: chỗ hay tính nhầm nhất
Phần lớn mốc trong luật lao động đếm theo ngày lịch. Khi luật chỉ ghi "ngày", cách hiểu thông dụng là ngày lịch, tức là tính cả thứ Bảy, Chủ nhật và ngày lễ. Báo trước 45 ngày hay 30 ngày là đếm như vậy. Một người nộp đơn ngày 01 thì không thể cộng thêm các ngày cuối tuần để kéo dài thời hạn.
Luật ghi rõ "ngày làm việc" thì mới bỏ ngày nghỉ. Ba ngày làm việc báo trước, sáu ngày làm việc thử việc, mười bốn ngày làm việc thanh toán là những mốc đếm theo lịch làm việc thực tế của đơn vị. Công ty làm sáu ngày một tuần và công ty làm năm ngày một tuần sẽ ra ngày cuối khác nhau cho cùng một mốc.
Ngày bắt đầu đếm thường là ngày kế tiếp. Theo quy tắc chung của Bộ luật Dân sự 2015, khi thời hạn tính bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên không tính, bắt đầu từ ngày tiếp theo. Riêng một số mốc lao động gắn với ngày bắt đầu làm việc, như thời gian thử việc, người ta thường tính luôn ngày đi làm đầu tiên. Cách an toàn là ghi rõ ngày bắt đầu và ngày kết thúc trong hợp đồng.
Ngày cuối rơi vào ngày nghỉ. Quy tắc chung là thời hạn kết thúc vào ngày làm việc tiếp theo. Nhưng với nghĩa vụ của bạn, chẳng hạn hạn nộp đơn hay hạn bàn giao, đừng dựa vào quy tắc này; làm xong trước ngày nghỉ là cách không phải tranh luận.
Mốc nào bỏ lỡ thì mất quyền, mốc nào chỉ là nghĩa vụ
Các mốc trong luật lao động có hai loại hệ quả khác nhau. Loại thứ nhất là thời hiệu: hết thời gian thì quyền yêu cầu mất hoặc khó được chấp nhận. Thời hiệu xử lý kỷ luật thuộc loại này, nhưng áp vào người sử dụng lao động: quá 6 tháng hoặc 12 tháng mà chưa ra quyết định thì không còn xử lý được nữa. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp cũng vậy, áp vào bên muốn đòi quyền lợi.
Loại thứ hai là thời hạn thực hiện nghĩa vụ: hết thời gian mà chưa làm thì nghĩa vụ không biến mất, chỉ là bên chậm trở thành bên vi phạm. Hạn 14 ngày làm việc thanh toán sau khi nghỉ là ví dụ rõ nhất. Công ty trả chậm vẫn phải trả, đồng thời có thể bị xử phạt hành chính và phải chịu thêm thiệt hại phát sinh.
Phân biệt hai loại này giúp bạn biết nên làm gì khi thấy mốc sắp trôi qua. Với thời hiệu, việc cần làm là nộp yêu cầu ngay, kể cả khi hồ sơ chưa hoàn hảo. Với thời hạn nghĩa vụ, việc cần làm là giữ bằng chứng về ngày đến hạn và việc bên kia chưa thực hiện, rồi yêu cầu bằng văn bản.
Các mốc nằm ngoài bảng nhưng hay gặp
Ngoài những mốc chính, còn một loạt mốc nhỏ hơn mà bộ phận nhân sự và người lao động thường hỏi. Danh sách dưới chỉ nêu nguyên lý; khi dùng cho trường hợp cụ thể, bạn đối chiếu văn bản hiện hành.
- Hết thời gian tạm hoãn hợp đồng: người lao động phải có mặt tại nơi làm việc trong 15 ngày kể từ ngày hết tạm hoãn; người sử dụng lao động phải nhận họ trở lại làm việc nếu hợp đồng còn thời hạn.
- Tự ý bỏ việc: bỏ việc không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên là căn cứ để người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng không cần báo trước; bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong 365 ngày có thể bị kỷ luật sa thải.
- Nghỉ hằng năm: 12 ngày làm việc cho điều kiện bình thường, tăng theo tính chất công việc và thêm 1 ngày cho mỗi đủ 5 năm làm việc cho một người sử dụng lao động.
- Làm thêm giờ: không quá 40 giờ trong một tháng và 200 giờ trong một năm, một số ngành được tới 300 giờ; từng có nghị quyết nâng tạm thời trong thời gian ngắn, nên khi lập kế hoạch cần kiểm văn bản đang áp dụng.
- Nội quy lao động: đơn vị dùng từ 10 người lao động trở lên phải đăng ký nội quy; hồ sơ nộp trong 10 ngày kể từ ngày ban hành và nội quy có hiệu lực sau 15 ngày kể từ khi cơ quan nhận đủ hồ sơ.
- Xoá kỷ luật: khiển trách sau 3 tháng, kéo dài thời hạn nâng lương sau 6 tháng, nếu không tái phạm thì đương nhiên được xoá.
Cách tự lập lịch mốc cho một hợp đồng cụ thể
Cách làm dưới đây dùng được cho cả người lao động lẫn người làm nhân sự. Mất khoảng mười lăm phút cho một hợp đồng, và tránh được phần lớn các tranh cãi về sau.
- Ghi ra ba ngày gốc: ngày ký hợp đồng, ngày bắt đầu làm việc, ngày hợp đồng hết hạn (nếu là hợp đồng xác định thời hạn).
- Xác định loại hợp đồng và vị trí công việc, vì số ngày thử việc và số ngày báo trước phụ thuộc vào hai yếu tố này.
- Xác định lịch làm việc của đơn vị (năm hay sáu ngày một tuần, có làm ca không) để quy đổi các mốc tính bằng ngày làm việc.
- Ghi các mốc cố định: ngày hết thử việc, ngày báo trước muộn nhất nếu muốn nghỉ đúng ngày hết hạn, ngày hết hạn 30 ngày để ký hợp đồng mới.
- Ghi các mốc phát sinh khi có sự việc: ngày xảy ra vi phạm (để tính thời hiệu kỷ luật), ngày phát hiện quyền lợi bị vi phạm (để tính thời hiệu tranh chấp).
- Đặt nhắc việc sớm hơn mốc thật ít nhất một tuần, nhất là với các mốc tính bằng tháng, vì mốc tháng hay rơi vào ngày không ai để ý.
Ví dụ giả định: một nhân viên kế toán ký hợp đồng 12 tháng, đi làm từ 03/3. Nếu thử việc thoả thuận 60 ngày thì mốc hết thử việc rơi vào đầu tháng 5; nếu muốn nghỉ đúng lúc hết hạn hợp đồng mà không gia hạn, việc báo cho công ty nên làm trước ít nhất 30 ngày. Những mốc này nên có trong lịch của cả hai bên ngay từ ngày ký.
Những hiểu lầm về mốc thời gian hay gặp nhất
"Chưa ký hợp đồng thì không có mốc nào." Không đúng. Thoả thuận bằng lời trong một số trường hợp vẫn được công nhận, và khi người lao động đã làm việc, có chấm công, nhận lương thì quan hệ lao động đã hình thành. Các mốc trả lương, báo trước, thanh toán vẫn được xem xét theo thực tế.
"Thử việc thì không tính vào thâm niên." Thời gian thử việc, nếu sau đó người lao động tiếp tục làm việc, thường được tính là thời gian làm việc để tính nghỉ hằng năm. Còn tính vào thời gian đóng bảo hiểm hay không lại phụ thuộc vào việc có giao kết hợp đồng lao động và có đóng hay không.
"Báo trước bằng lời là đủ." Luật không cấm báo bằng lời, nhưng khi tranh chấp xảy ra, bên nào chứng minh được ngày báo trước thì bên đó có lợi. Một tin nhắn, thư điện tử hoặc đơn có ký nhận là bằng chứng tốt hơn nhiều.
"Hết hạn hợp đồng là xong, khỏi báo." Hợp đồng hết hạn mà người lao động vẫn đi làm, công ty vẫn trả lương thì quan hệ tiếp tục, và sau 30 ngày không ký mới thì hợp đồng chuyển thành không xác định thời hạn. Im lặng cũng là một lựa chọn có hệ quả.
Khi nào nên tìm người làm nghề
Phần lớn câu hỏi về mốc thời gian có thể tự tra được. Nhưng có những tình huống mà một ngày tính lệch có thể làm mất quyền lợi đáng kể: sắp hết thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp, bị sa thải mà nghi ngờ quyết định ra sau khi hết thời hiệu kỷ luật, hợp đồng ký nối nhiều lần với khoảng trống giữa các lần ký, hoặc công ty đang trong quá trình chia tách, sáp nhập nên mốc thanh toán bị kéo dài.
Với các trường hợp đó, bạn nên chuẩn bị sẵn bản sao hợp đồng, phụ lục, bảng lương, tin nhắn trao đổi và ghi chép ngày tháng của từng sự việc, rồi nhờ luật sư, tổ chức công đoàn hoặc hoà giải viên lao động xem xét. Người làm nghề có thể đọc ra những mốc bạn chưa để ý, nhưng họ cần dữ kiện ngày tháng chính xác từ bạn. Việc ghi lại ngày của từng sự kiện là phần bạn tự làm được, và nên làm ngay từ hôm nay.
Câu hỏi thường gặp
Bộ luật Lao động 2019 có áp dụng cho người làm việc không có hợp đồng không?
Bộ luật áp dụng cho quan hệ lao động, tức là có việc làm, có trả công và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Nếu các yếu tố này có thật thì dù hai bên gọi tên thoả thuận là gì, quan hệ vẫn có thể được coi là quan hệ lao động và các mốc thời gian vẫn được xem xét.
Ngày lễ, Tết có làm kéo dài mốc báo trước 45 ngày không?
Không. Mốc 45 ngày đếm theo ngày lịch nên ngày lễ, Tết nằm trong khoảng đó vẫn được tính. Chỉ những mốc luật ghi là ngày làm việc mới bỏ ngày nghỉ hằng tuần và ngày lễ ra khỏi phép đếm.
Người lao động nước ngoài có cùng các mốc này không?
Phần lớn mốc giống nhau, nhưng hợp đồng với người lao động nước ngoài có quy định riêng về thời hạn, gắn với thời hạn giấy phép lao động và được ký nhiều lần hợp đồng xác định thời hạn. Doanh nghiệp nên đặt thêm mốc theo dõi giấy phép lao động trong lịch.
Thoả thuận trong hợp đồng có thể rút ngắn thời gian báo trước không?
Hai bên có thể thoả thuận thời gian báo trước dài hơn hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng theo ý chí chung vào một ngày cụ thể. Còn điều khoản đặt mức báo trước ngắn hơn luật để bất lợi cho người lao động thì có nguy cơ không được áp dụng.
Mốc thời gian trong thoả ước lao động tập thể có thay được luật không?
Thoả ước có thể quy định có lợi hơn cho người lao động so với luật, chẳng hạn thêm ngày nghỉ, kéo dài thời gian báo trước của công ty. Thoả ước không được đặt điều kiện kém hơn mức tối thiểu luật bảo đảm.
Nên lưu giấy tờ chứng minh ngày tháng trong bao lâu?
Ít nhất nên giữ đến khi hết thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp, tức là tối thiểu một năm sau khi nghỉ việc. Với giấy tờ liên quan bảo hiểm xã hội và lương hưu, nên giữ lâu dài vì có thể cần khi tính chế độ nhiều năm sau.